thơ về nạn đói 1945
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954 cũng kết thúc tại đây để chuẩn bị cho thời kỳ 1954 - 1975. Meovui.com đã cung cấp đến quý vị và các bạn các thông tin về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954 qua bài viết trên đây.
Nạn đói khủng khiếp và dữ dội năm 1945 đã hằn in trong tâm trí Kim Lân - một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với "thuần hậu phong thủy" ấy. Ngay sau cách mạng, ông đã bắt tay vào viết ngay tiểu thuyết Xóm ngụ cư.
Quay về Bạn đang ở trang: Home Giải trí Thơ Truyện và Thơ Truyện Truyện sử VN Nạn đói năm 1945, những ký ức lịch sử Nạn đói năm 1945 (kỳ 2): Dưới đáy của địa ngục - Bài 1: Nhà hoang - làng trắng
Vợ nhặt đã ghi lại chân thực cảnh nạn đói mùa xuân năm 1945, một tai họa thảm khốc trong lịch sử của dân tộc ta. Trên cái nền tăm tối ấy, Kim Lân đã làm nổi bật phẩm chất tốt đẹp của người lao động Việt Nam. Do đó truyện vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo cao quý. II. Thân bài. 1. Giá trị hiện thực. a.
Đó là những kỉ niệm tuổi thơ gắn liền với những năm tháng gian khổ, vất vả. đó là những cái đói dài, mệt mỏi, kiệt sức cộng với hình ảnh con ngựa gầy khô rạc, đây là hình ảnh nói về nạn đói của đất nước năm 1945.
Site De Rencontre Gratuit Dans Ma Region. Những bài ca dao - tục ngữ về "Nạn đói năm Ất Dậu" Tàu cười, Tây khóc, Nhật lo Tàu cười, Tây khóc, Nhật lo, Việt Nam hết gạo chết co đầy đường Dị bản Tàu cười, Tây khóc, Nhật lo, Việt Nam độc lập chết co đầy đường Khách cười, Tây khóc, Nhật no Việt Nam độc lập nằm co chết đường Đất này đất tổ đất tiên Đất này đất tổ đất tiên Đất này chồng vợ bỏ tiền ra mua Bây giờ Nhật, Pháp kéo hùa Chiếm trồng đay lạc, ức chưa hỡi trời Chém cha lũ Nhật côn đồ Chém cha lũ Nhật côn đồ Bắt người cướp của tha hồ thẳng tay Dân ta trăm đắng ngàn cay Thức ăn chẳng có trồng đay cho người Giời làm chết đói tháng ba Giời làm chết đói tháng ba Người thì bán cửa bán nhà để ăn Người thì bán áo bán khăn Bán đi cho sạch, cốt ăn sống người Người thì bán mâm bán nồi Người thì bán cả đồ chơi trong nhà Người thì bán đất bán nhà Người thì bán cả mâm xà bát hương Người thì bán sập bán giường Có người bán chĩnh làm tương độ chầy Giời ơi đất hỡi có hay? Được mùa chớ phụ ngô khoai Được mùa chớ phụ ngô khoai Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng Dị bản Được mùa chớ phụ môn khoai Đến năm Thân, Dậu lấy ai bạn cùng Nạn đói năm Ất Dậu Một nạn đói xảy ra tại miền Bắc trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 Giáp Thân đến tháng 5 năm 1945 Ất Dậu làm khoảng từ đến hai triệu người dân chết đói. Nguyên nhân trực tiếp là những hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương Các cường quốc liên quan như Pháp, Nhật Bản và cả Hoa Kỳ đã can thiệp vào Việt Nam và gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra khiến miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên càng bị đói. Ngoài ra còn có nguyên nhân tự nhiên lũ lụt, thiên tai, bệnh dịch tả.... Người chết vì đói năm Ất Dậu Chú khách Một cách gọi người Hoa sống ở Việt Nam. Từ này bắt nguồn từ chữ "khách trú," cũng gọi trại thành cắc chú. Đay Một loại cây thuộc họ bông gòn, chiều cao từ 2 - 5 m, vỏ cây dùng để làm sợi. Trong Chiến tranh Đông Dương, Pháp và Nhật đã bắt dân ta "nhổ lúa trồng đay" nhằm phục vụ chiến tranh sản xuất quân trang, quân phục, làm sản lượng lương thực bị giảm mạnh, góp phần gây nên nạn đói năm Ất Dậu ở miền Bắc. Cây đay Tháng ba và tháng bảy, tháng tám là hai thời kì giáp hạt trong năm. Mâm xà Loại mâm thờ chân cao, không có nắp. Bình hương Loại lọ bằng gỗ, sành hoặc sứ, thường có hoa văn, để cắm và thắp nhang trên bàn thờ hoặc những chỗ thờ cúng khác. Tùy theo hình dạng mà bình hương cũng gọi là bát hương hoặc nồi hương. Bát hương và cặp lọ trang trí Sập Loại giường không có chân riêng, nhưng các mặt chung quanh đều có diềm thường được chạm trổ. Sập thường được làm bằng gỗ quý, thời xưa chỉ nhà giàu mới có. Cái sập Chĩnh Đồ đựng bằng sành hoặc đất nung, miệng hơi thu lại, đáy thót, nhỏ hơn chum. Xem thêm Cái chum Độ chầy Lần hồi qua ngày. Như độ nhật. Khoai môn Tên một số giống khoai gặp nhiều ở nước ta, cho củ có nhiều tinh bột, ăn được. Có nhiều giống khoai môn như môn xanh, môn trắng, môn tím, môn tía, môn bạc hà, môn sáp, môn sen, môn thơm, môn trốn... mỗi loại có những công dụng khác nhau như nấu canh, nấu chè... Trước đây môn, sắn, khoai, ngô... thường được ăn độn với cơm để tiết kiệm gạo. Cây và củ khoai môn
Giới thiệu sách Nạn Đói Năm 1945 Ở Việt NamNhững tác phẩm văn học như truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân, “Một bữa no” của Nam Cao hay “Chuyện cũ Hà Nội” của Tô Hoài, hoặc tác phẩm thơ như “Bếp lửa” của Bằng Việt, đều lồng vào trong đó câu chuyện về nạn đói cuối năm 1944 đầu xuân 1945, nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử khi đã khiến hơn 2 triệu đồng bào thiệt mạng. Nhưng, ở góc độ khảo cứu từ những chuyên gia có chuyên môn, nạn đói này còn những ẩn khuất nào mà chúng ta chưa được biết? Cuốn sách “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam” sẽ cho ta một cái nhìn toàn cảnh về một giai đoạn đau thương của dân tộc Việt Nam mình. Họ đi thành rặng dài bất tuyệt gồm cả gia đình, già lão có, trẻ con có, đàn ông có, đàn bà có, người nào người ấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lỗ, gầy guộc giơ xương ra run rẩy, ngay cả đến những thiếu nữ đã đến tuổi dậy thì, đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại để vuốt mắt cho một người trong bọn họ đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng hãy còn che thân người đó...". - Thư của Vespy tháng 4/1945 NHỮNG CHỨNG TÍCH LỊCH SỬ Cuối năm 1944, đầu năm 1945, Thế chiến II dần đi đến hồi kết với chuỗi thất bại liên tiếp của Phe Trục Đức, Italia, Nhật Bản. Ở mặt trận Đông Nam Á, Phát xít Nhật với tham vọng điên cuồng dần hất cẳng thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương và tăng cường vơ vét, bóc lột nhân dân ta nhằm phục vụ cho mưu đồ chiến tranh của chúng. Những chính sách bóc lột vô cùng tàn bạo của Nhật, cộng với mất mùa, dẫn đến nạn đói được coi là tàn khốc nhất trong lịch sử Việt Nam, khiến cho hơn 2 triệu người Việt chết đói và hậu quả vẫn còn ảnh hưởng cho tới tận ngày nay. NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ Các cường quốc đang chiếm đóng Việt Nam như Pháp, Nhật Bản vì mục đích phục vụ chiến tranh đã lạm dụng và khai thác quá sức vào nông nghiệp vốn đã lạc hậu, đói kém gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Trong khi Nhật thu gom gạo để chở về nước thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam. Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên càng bị đói. Nguyên nhân gián tiếp là những biện pháp quân sự hóa kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh của chế độ thực dânPháp tại Việt Nam, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm. Sau đó Nhật Bản dùng vũ lực loại bỏ Pháp chiếm đóng Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khác khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh bắt nông dân nhổ lúa trồng đay để giải quyết nạn khan hiếm vải, buộc người dân bán lúa gạo với giá rẻ mạt để chuyển về Nhật. Không có số liệu chính xác về số người đã chết đói trong nạn đói này, một số nguồn khác nhau ước tính là từ khoảng đến 2 triệu người đã bị chết đói tại miền bắc Việt Nam. Đây là tỷ lệ chết đói rất cao, vì dân số toàn Việt Nam năm 1945 chỉ khoảng 23 triệu, trong đó khoảng 9 triệu sinh sống ở các tỉnh xảy ra nạn đói. NHỮNG CÂU CHUYỆN XÚC ĐỘNG "Số nạn nhân của nạn đói ở thôn Lương Phú, xã Tây Lương, mà những người còn may mắn sống sót đã cho là tới hơn 40% tổng số dân của thôn, tương đương với mức thiệt hại đã xảy ra ở vùng Hachinohe miền Bắc Nhật Bản, nơi gánh chịu những thiệt hại nặng nề nhất trong suốt nạn đói lớn nhất ở Tenmei ở thời kỳ Edo." - Giáo sư Furuta Motoo “Ông bố dẫn cậu con trai đi Hà Nội, nghe nói vào làng Tám rồi sau chết ở đâu không rõ. Hai mẹ con sang nhà ông ngoại cậy nhờ, nhưng người con gái vẫn không thoát chết. Vì bị đói, suy dinh dưỡng, bụng to trướng rồi chết. Thế là chỉ có bà vợ của ông qua khỏi. Gia đình cụ Hoàng Văn Duẩn có 5 nhân khẩu chỉ đi làm thuê, mò cua bắt ốc, chết đói cả nhà, gia đình người em là Hoàng Riếc, chồng đi đánh dậm, vợ mò cua, cả nhà có 5 nhân khẩu cũng chết cả nhà. Hai anh em nhà này là người chết đầu tiên ở địa phương..." - Ông Nguyễn Văn Thâu 64 tuổi xóm Nam Thọ, thôn Hiên, xã Tây Lương. Cuốn sách Nạn Đói Năm 1945 Ở Việt Nam có gì? Nhằm cung cấp cho bạn đọc một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống những chứng tích về sự mất mát, đau thương mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu trong lịch sử trước tội ác của phát xít Nhật, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật kết hợp cùng Omega+ xuất bản cuốn sách Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử, dựa trên những tài liệu được khảo cứu công phu, khảo sát trực tiếp các địa điểm xảy ra nạn đói, phỏng vấn những chứng nhân lịch sử, cuốn sách đã dựng lại khá toàn diện bức tranh về nạn đói năm 1945 ở Việt Nam. Nhận xét về cuốn sách Nạn Đói Năm 1945 Ở Việt Nam “Kết quả của công trình đã làm sáng rõ về số lượng hơn 2 triệu người chết đói; về thảm họa chết đói; về nguyên nhân sinh ra nạn đói năm 1945 và hậu quả nghiêm trọng của nó. Công trình Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử đã chứng minh một cách chắc chắn rằng Nguyên nhân sinh ra nạn đói ở Việt Nam năm 1945 là do chính sách vơ vét, bóc lột tàn bạo của phát xít Nhật đối với nhân dân Việt Nam.” - Viện trưởng Viện Sử học, Đinh Quang HảiThông tin tác giả GS. Văn Tạo, GS. Furuta MotooGS. Văn Tạo, GS. Furuta MotooGS. Văn Tạo là Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam từ năm 1980 đến năm 1989. Trong hơn nửa thế kỷ làm công tác nghiên cứu lịch sử, ông đã để lại một sự nghiệp khoa học khá đồ sộ với gần 100 cuốn sách do ông biên soạn, chủ biên hay tham gia biên soạn, hơn, 200 bài viết công bố trên nhiều tạp chí, trong các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế. GS. Furuta Motoo là Viện trưởng Viện Cao học Văn hóa tổng hợp kiêm Hiệu trưởng Trường Đại cương, Đại học Tokyo; Phó Giám đốc Thường trực Đại học Tokyo; Giám đốc Thư viện, Đại học Tokyo; Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Nhật - Việt; Chủ tịch Hội Nhật Bản nghiên cứu Đông Nam Á; hiện ông là Hiệu trưởng Trường Đại học Việt - Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Các giải thưởng mà ông nhận được gồm Huy chương Hữu nghị năm 1980; Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ năm 2012; Huân chương Hữu nghị năm 2013Sách Nạn Đói Năm 1945 Ở Việt Nam của tác giả GS. Văn Tạo, GS. Furuta Motoo, có bán tại Nhà sách online NetaBooks với ưu đãi Bao sách miễn phí và Gian hàng NetaBooks tại Tiki với ưu đãi Bao sách miễn phí và tặng Bookmark
29-12 HB10 Trần Xuân An — HAI BÀI THƠ VỀ NẠN ĐÓI ẤT DẬU 1945 Bài bổ sung vào chùm thơ sử về Quảng Trị “NGHI THỨC NHẶT CƠM RƠI CỦA BÀ MẸ QUÊ” 29-12 HB10 — đã gửi đăng ở TranNhuongCom — Có thể đọc ở — Bấm vào đây Ảnh Nhiếp ảnh gia Võ An Ninh Hà Nội, 1945 NGHI THỨC NHẶT CƠM RƠI CỦA BÀ MẸ QUÊ Trần Xuân An nhớ bài thơ về Đa Nhim, 1981 quý hạt ngọc trời, thói quen từ bé chao vào muỗng canh những hạt cơm rơi đưa lên miệng, kính cẩn lời niệm khẽ chưa từng nhạt phai, dù tuổi tám mươi Ất Dậu, bốn lăm, niềm đau trận đói cha lén ăn, để chết lịm con thơ quá tủi thẹn, đã tự mình treo cổ! suốt đời bà, chưa khuây quên bao giờ chuyện quê buồn, tôi nghe từ tuổi nhỏ người thành ma đói, ngập chợ đầy đường một cơ khổ giữa trùng trùng cơ khổ năm năm giặc Nhật, mấy triệu đau thương trở mặt Đông Du, mị lừa Đại Á xót đau, biết trước, còn bịp ai đây! nay tóc bà vẫn trắng mây nhân hậu lỡ cơm rơi, nhặt lại, dẫu đủ đầy nỗi mất nước khắc sâu vào số phận tiếc ngọc trời thành nghi thức nguyện cầu Hiro, Naga cũng hằng tưởng niệm với tiếng bẻ gươm? vỗ cánh bồ câu. 14 – 1525, 29-12 HB10 TXA. Tôi có chỉnh sửa lại đôi chút ở khổ thơ đầu, so với bản đã gửi đăng. Dẫu vậy, nội dung vẫn không có gì thay đổi. Đây là bản chính thức. Xin thành thật cáo lỗi. TXA. 30-12 HB10. Ảnh Nhiếp ảnh gia Võ An Ninh Hà Nội, 1945 Bóng đèn điện — từ nguồn điện Đa Nhim Đơn Dương — ở Đức Trọng, Lâm Đồng giọt mồ hôi tủi nhục, giọt lệ căm hờn, giọt máu tiến công, giọt nắng nhân hậu tứ thơ của TXA. Ảnh lớn hơn ảnh chỉ có tính chất minh họa – Google tìm kiếm ĐA NHIM, NHỚ LẠI MỘT TỨ THƠ MƯỜI LĂM NĂM TRƯỚC Trần Xuân An tưởng niệm nỗi đau lịch sử nạn đói Ất dậu 1945 ngồi trước trang sách mở bóng điện tròn sáng soi nghe trĩu đau vầng trán nghẹn đặc giọt mồ hôi giọt mồ hôi cúi mặt trồng đay bỏng kiếp tôi đòi trên đồng lúa ngậm đòng phải cắn răng nhổ bỏ! chữ học trò giấy vở bóng đèn chao nét ngời ngước lên nhìn giọt lệ tự thuở nào, sắp rơi giọt lệ rơi từ hốc mắt hờn căm ngút trời hai triệu rưởi người quắt queo chết đói! sổ tay thơ buốt nhói máu ứa ra chảy ròng như mồ hôi nước mắt bóng điện rực rỡ hồng giọt máu hồng nhoà ngực lạnh mưa đông vẫn nắm chặt tầm vông lao vào đồn giặc! đâu chỉ là nước mắt chuyện tình xưa, đa nhim! 1 bóng điện treo từng giọt lương tâm không im lìm thắp màu nắng nghìn xưa bao dung nhân hậu ấm buồng tim để Hi-rô-shi-ma, Na-ga-sa-ki 2 cũng đêm đêm rưng rưng giọt nắng! 1981 – 1995 Đức Trọng, Lâm Đồng – TXA. 1 Đa Nhim, địa danh ở tỉnh Lâm Đồng, tiếng nhân tộc K’Hor, có nghĩa là nước mắt. Đó là nơi có hồ nước thuỷ điện. Công trình thủy điện Đa Nhim này do Nhật Bản bồi thường chiến tranh, trước 1975.2 Hiroshima, Nagasaki, hai thành phố của Nhật Bản bị đánh bom nguyên tử, kết liễu cuồng vọng Đại Đông Á thuộc Nhật của phát-xít Nhật. Nguồn ảnh Báo Người Hà Nội Bắc kỳ,1945 Đã đăng tại các tạp chí điện tử tự lập PhongDiepNet TranNhuongCom Thử xem bản dịch thô ra tiếng Anh, bài “ĐA NHIM, NHỚ LẠI MỘT TỨ THƠ MƯỜI LĂM NĂM TRƯỚC” 1981-1995, ở phần “bàn luận” comment.
Văn học Việt Nam và nạn đói năm 45 Trong quá trình học môn Ngữ Văn, chúng ta sẽ nhận thấy có rất nhiều tác phẩm có bối cảnh hoặc hình tượng nhân vật.. dựa trên thực tế. Và mỗi học sinh phải có những kiến thức nhất định về những điều trên để có thể có được những bài phân tích văn học có chất lượng, giúp bài văn của bản thân trở nên đặc biệt, có chiều sâu. Ở bài viết ngày hôm nay, mình sẽ nêu ra một dấu mốc xuất hiện rất nhiều trong những áng văn Việt Nam, đó là "Nạn đói năm 1945". Qua những áng văn chương, chúng ta đã chứng kiến câu chuyện đau lòng của lịch sử Việt Nam. Đó là thời mà cái đói, cái rét bủa vây lấy đồng bào mình. Chắc hẳn, chưa ai quên được những câu thơ trong tác phẩm "Bếp lửa" của nhà thơ Bằng Việt "Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy" Cái sự "đói mòn đói mỏi" đầy ám ảnh ấy lặng lẽ bước vào văn chương, để rồi sau này ra đời những truyện, những hồi ký ám ảnh người đọc về sau. Có mấy ai mà không bồi hồi, xót xa khi nghĩ về nốt trầm mặc ấy của dân tộc.. Vậy, nỗi ám ảnh ấy đã xuất hiện trong văn chương như thế nào? Trước hết, chúng ta hãy tới với nhà văn Tô Hoài. Ông đã từng viết về nạn đói "Mỗi khi chợt nghĩ lại, tôi vẫn bàng hoàng về những năm khủng khiếp ấy", không chỉ vậy, tác giả "Vợ chồng A Phủ" còn từng nói rằng "chữ nghĩa tôi run rẩy, thổi bay được. Khủng khiếp quá". Cái run rẩy kia âu cũng chính là cái run rẩy của Tô Hoài, của mỗi con người Việt Nam khi thấy hiểu trước nạn đói đã cướp đi tính mạng của hai triệu con người. Thật vậy, trong tác phẩm "Chuyện cũ Hà Nội", ông đã đưa cái "run rẩy" vào câu văn khi miêu tả chuyện mua bán trẻ em như mua bán một con lợn giữa những năm đói như sau "Lại thêm người đói các nơi ùn tới. Trong đầu chợ, nhan nhản người đem bán trẻ con. Ở làng tôi, người quảy trẻ con sang bán ở các chợ bên kia sông Hồng. Có người chuyên đi buôn trẻ con, như thời thường mua bán gà lợn. Nhưng đâu bây giờ cũng hết cái ăn, ai còn mua trẻ con làm gì. Bắt đi lắm khi lại dắt về. Khốn khổ". Lúc bấy giờ, Hà Nội đâu phải là nơi nạn đói hoành hành, thế nhưng người đói đổ về đây rất nhiều, điều này dẫn tới hình ảnh phố phường Hà Nội đầy thê lương, vất vưởng "Càng phấp phỏng, càng hoảng hốt khi trông thấy lũ lượt người đói các nơi kéo vào.. Người ngồi, người chết la liệt các vỉa hè. Suốt ngày đêm xe kéo xác chết lầm lũi qua". Chừng ấy đủ khiến người ta hình dung một hiện thực khắc nghiệt, tang tóc đến nghẹn lòng. Nhắc đến sự kiện nạn đói năm 45 trong văn học thì không thể không kể đến Nam Cao. Các tác phẩm truyện ngắn của ông, mỗi truyện khắc họa một bi kịch khác nhau của phận người trong cái đói, cái nghèo. Ông đã từng đau đớn mà viết rằng "Con chó chết vào giữa cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể". Nam Cao đã nhìn ra cái đói đã tiềm tang tự thuở nào trong đời sống của những con người thấp cổ bé họng. Đó là hình ảnh một lão Hạc sống leo lắt qua ngày trong khu vườn chẳng còn gì để bán. Đó là nhân vật bà lão đói quá lâu, cho tới khi có được một bữa no thì cơ thể không thể chịu được bữa no bất thường ấy, rồi bà lão lăn ra chết. Trong cái nghèo, cái đói, và sự cô độc ấy, con người ta dường như phải giành giật sự sống, dù chỉ là hi vọng mong manh nhất. Tương tự với những áng văn của Nam Cao, tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân cũng phản ánh vô cùng chân thực cái rùng rợn của nạn đói năm 45. Truyện lấy bối cảnh nạn đói năm 1945 tràn lan khiến người chết như ngả rạ, người sống dật dờ như những bóng ma. Cái hình ảnh người "chết như ngả rạ" khiến chúng ta không khỏi sợ hãi trước trò đùa của tạo hóa. Thế nhưng, trong hoàn cảnh tước cái đói, phải đối diện tử thần, nhiều người mất nhân tính, cốt có cái đưa vào miệng, vẫn có những câu chuyện xúc động. Đó chính là câu chuyện của Tràng và thị, những con người chưa biết ngày mai sẽ như thế nào nhưng họ vẫn sẵn sàng tìm đến nhau, trao nhau hơi ấm tình người. Không chỉ trong các tác phẩm truyện ngắn, cái đói cái nghèo ấy cũng xuất hiện ngay cả những dòng thơ. Trong tác phẩm "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc", Văn Cao đã phải đau đớn mà thốt lên rằng "Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa Chập chờn ảo hóa tà ma.. Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục Tình tang.. Não nuột khóc tàn sương Áo thế hoa rũ rượi lượn đêm trường Từng mỹ thể rạc hơi đèn phù thể Ta đi giữa đường dương thế Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây.." Hay như trong tác phẩm "Ô Cầu Dền" của nhà văn Bảo Sinh, cái chết giữa những tháng ngày đói khổ ấy đã trở thành cái chết chung, là "mả chôn chung" của cả dân tộc "Năm 1945, đây là mả chôn chung của nạn nhân chết đói. Hàng ngày, xe bò chở đầy xác chất trên phủ mảnh chiếu, chân tay thò ra ngoài, lọc cọc, rập rình, xe đu đưa những cánh tay, cẳng chân cũng đu đưa theo. Xác chết được đổ đầy vào một cái hố chôn chung, sau đó lấp đất phẳng, không có dấu hiệu mồ mả gì cả". Những câu văn, lời thơ trên chua chát, đắng cay bởi nó có hiện thực, có mồ hôi, nước mắt, xương máu của đồng bào ta. Từng hình ảnh cứ hiện lên sống động qua từng con chữ như muốn nhắc nhở người ta ghi nhớ mãi, như ghi nhớ một thứ kí ức đớn đau đến cứa da cứa thịt của dân tộc này! Cảm ơn mọi người đã đọc bài của mình nạn đói văn học ý nghĩa
Thơ Về Nạn Đói 1945 ❤️️ Bài Thơ Đói Của Bàng Bá Lân ✅ Tuyển Tập Những Bài Thơ Viết Về Nạn Đói Năm Ất Dậu 1945 Hay Nhất. Nội Dung Bài Thơ Đói Của Bàng Bá LânCác Bài Thơ Về Nạn Đói 1945 Bài thơ ĐóiTác giả Bàng Bá Lân Năm Ất Dậu, tháng ba, còn nhớ mãiGiống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!Những thây ma thất thểu đầy đường,Rồi ngã gục không đứng lên vì… đói!Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội,Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm. Khắp đường xa những xác đói rên nằmTrong nắng lửa, trong bụi lầm co đống giẻ chỉ còn đôi hố mắtĐọng chút hồn sắp tắt của thây ma;Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoaNhư muốn bắt những gì vô ảnh,Dưới mớ tóc rối bù và kết bánh,Một làn da đen xạm bọc xương nhe ra như những chiếc đầu lâu,Má hóp lại, răng hằn sâu gớm trẻ gái trai không còn phân biệt,Họ giống nhau như là những thây ma,Như những bộ xương còn dính chút daChưa chết đã bốc xa mùi tử khí!Mùi nhạt nhẽo nặng nề kỳ dị,Một mùi tanh lộn mửa thoảng mà kinh.Mùi tanh hôi ám ảnh mãi bên mìnhKhiến cả tháng ăn không còn ngon bữa!Những thây đó cứ xỉu dần tắt thở,Nằm cong queo mắt vẫn mở trừng con ngươi còn đọng lệ rưng rưng,Miệng méo xệch như khóc còn dang thây chết ba hôm còn nằm đó,Ruồi tám phương bâu lại khóc vo vo…Rồi ven đường đôi nhát cuốc hững hờĐắp điếm vội những nấm mồ nông dối! Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội,Đói ở Thái Bình đói tới Gia ven đường những nấm mộ âm thầmĐược đánh dấu bằng ruồi xanh cỏ nấm mộ quá nông trơ hài cốt,Mùi hôi tanh nồng nặc khắp không vài trận mưa, nước xối chan chan,Ôi, thịt rữa xương tàn phơi rải rác! Tại Hà Nội cũng như bao tỉnh khác,Những thây ma ngày lết đến càng đông;Đem ruồi theo cùng hơi hớm tanh nồng,Rồi ngã gục khắp đầu đường cuối sớm sớm cửa mỗi nhà hé ngỏ,Rụt rè xem có xác chết nào chăng!Từng chiếc xe bò bánh rít khô khanMỗi sáng dạo khắp nẻo đường nhặt chồng chất lù lù như đống rác,Đó đây thò khô đét một bàn chânHay cánh tay gầy khô đét teo rănGiơ chới với như níu làn không khí,Như cầu cứu, như vẫy người chú ý…Có hơi thở tàn thoi thóp chưa thôi,Có tiếng cụa mình, tiếng nấc… Những tròng ngươiNhìn đẫm lệ người chôn người chửa chết!Bốn ngoại ô mở ra từng dẫy huyệtĐược lắp đầy bằng xác chết… thường như mây bay rợp cả một miền…Chết! Chết! Chết! Hai triệu người đã chết! Họ là những người quê non nước Việt,Sống cần lao bên ruộng lúc đồng xanh rờn nhờ họ đổ mồ hôi,Nước Việt sống nhờ mồ hôi họ ấy, thuở Nhật, Tây cùng đô hộ,Chúng thi nhau cướp lúa của dân lúa rồi, hết sạch cả khoai ngô;Hết củ chuối, hết nhẵ khô cả sắn!Ngày giáp hạt không còn chi để nhấm,Đói cháy lòng, đành nhá cả mo cau;Nhá cả bèo và nuốt cả khô dầu!Đói! Đói! Đói! Người nhao lên vì đói! Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội,Đói ở Thái Bình đói tới Gia biệt quê hương, lê gót âm thầmTrên rải rác mọi nẻo đường đất gia đình dắt díu nhau lê bướcĐi lang thang mong sống tạm qua lúa lên hương, bông trĩu đầu tháng nữa sẽ hồi cư sẽ sống!Nhưng đau đớn hỡi ơi là ảo mộng!Họ ra đi hy vọng có ngày về!Nhưng chẳng bao giờ về nữa, hỡi người quê!Dần lả gục khắp đầu đường xó chợ! Cùng lúc ấy cũng trên đường rộn rã,Từng đoàn xe chuyên chở thóc vàng của dân đen, thóc của những ngườiĐang chết đói vì thực dân cướp chúng cướp phần vung xài huy hoắc,Phần chúng đem để mục nát trong kho!Ôi, đau thương, chưa từng thấy bao giờ…Trong lịch sử chưa bao giờ từng có!Hai triệu người, vì thực dân, lìa bỏNước thân yêu, oan uổng chết đau thương,Trong lúc đầy đồng bát ngát, ở quê hương,Lúa mơn mởn đang ra đòng trổ trái,Lúa trĩu hạt vàng tươi sai gấp bội,Ngạt ngào thơm báo hiệu ấm no người đi không về nữa, than ôi!Lúa chín gục, chẳng còn ai gặt hái!… Ta nhớ mãi cái thời kỳ đen tối!Quên làm sao tội lỗi kẻ xâm lăng!Quên làm sao mối thù hận khôn cùng!Quên sao được hai triệu người chết đói!Năm Ất Dậu tháng ba, còn nhớ mãi,Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương!Những thây ma thất thểu đầy ngã gục không đứng lên vì… đói!Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội,Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm!… Bên cạnh Thơ Về Nạn Đói 1945, Tặng Bạn ❤️️ Bài Thơ Về Đất Nước Việt Nam ❤️️Những Bài Ca Ngợi Tổ Quốc Hay Các Bài Thơ Về Nạn Đói 1945 Tuyển tập những bài thơ nói về nạn đói 1945 ý nghĩa nhất. Đa nhim, nhớ lại một tứ thơ mười lăm năm trước Tác giả Trần Xuân An Ngồi trước trang sách mởbóng điện tròn sáng soinghe trĩu đau vầng tránnghẹn đặc giọt mồ hôi giọt mồ hôi cúi mặt trồng đaybỏng kiếp tôi đòitrên đồng lúa ngậm đòngphải cắn răng nhổ bỏ! chữ học trò giấy vởbóng đèn chao nét ngờingước lên nhìn giọt lệtự thuở nào, sắp rơi giọt lệ rơi từ hốc mắt hờn căm ngút trờihai triệu rưởi người quắt queo chết đói! sổ tay thơ buốt nhóimáu ứa ra chảy ròngnhư mồ hôi nước mắtbóng điện rực rỡ hồng giọt máu hồng nhoà ngực lạnh mưa đôngvẫn nắm chặt tầm vông lao vào đồn giặc! đâu chỉ là nước mắtchuyện tình xưa, đa nhim!bóng điện treo từng giọtlương tâm không im lìm thắp màu nắng nghìn xưabao dung nhân hậu ấm buồng timđể Hi-rô-shi-ma, Na-ga-sa-kicũng đêm đêm rưng rưnggiọt nắng! Nghi thức nhặt cơm rơi của bà mẹ quêTác giả Trần Xuân An Quý hạt ngọc trời, thói quen từ béchao vào muỗng canh những hạt cơm rơiđưa lên miệng, kính cẩn lời niệm khẽchưa từng nhạt phai, dù tuổi tám mươi Ất Dậu, bốn lăm, niềm đau trận đóicha lén ăn, để chết lịm con thơquá tủi thẹn, đã tự mình treo cổ!suốt đời bà, chưa khuây quên bao giờ chuyện quê buồn, tôi nghe từ tuổi nhỏngười thành ma đói, ngập chợ đầy đườngmột cơ khổ giữa trùng trùng cơ khổnăm năm giặc Nhật, mấy triệu đau thương trở mặt Đông Du, mị lừa Đại Áxót đau, biết trước, còn bịp ai đây!nay tóc bà vẫn trắng mây nhân hậulỡ cơm rơi, nhặt lại, dẫu đủ đầy nỗi mất nước khắc sâu vào số phậntiếc ngọc trời thành nghi thức nguyện cầuHiro, Naga cũng hằng tưởng niệmvới tiếng bẻ gươm? vỗ cánh bồ câu. Giời làm chết đói tháng baTác giả chưa rõ Giời làm chết đói tháng baNgười thì bán cửa bán nhà để ănNgười thì bán áo bán khănBán đi cho sạch, cốt ăn sống ngườiNgười thì bán mâm bán nồiNgười thì bán cả đồ chơi trong nhàNgười thì bán đất bán nhàNgười thì bán cả mâm xà bát hươngNgười thì bán sập bán giườngCó người bán chĩnh làm tương độ chầyGiời ơi đất hỡi có hay? Đói! Đói!Tác giả Tố Hữu Lúa mùa mất sạch mọi nơiGiặc còn vơ vét hết nồi đến thăng!Đói xo khắp xóm khắp làngRau dưa chết giá, ngô lang xạc xờBuồn trông đồng trắng bãi khôLúa chiêm thôi hết ước mơ đầy nồi!Một quan gạo sáu lon thôiKhông tiền mua cám mà nuôi mẹ giàCháu thơ đói lả ôm bàCon đeo chân bố khóc la đêm ngày! Bà con ơi, tính sao đây?Bã nâu thính trấu nhét đầy bụng sao?Ăn xin, xin chẳng có nàoNằm lăn mà khóc, mà gào ai thương?Há đành chết lặng trên giườngHá đành gục xuống bên đường chết queo?Dậy đi, hỡi bạn đói nghèoTay cầm thúng mủng, lưng đèo cháu conSợ chi doạ nạt roi đònRủ nhau ta tới công môn ta đòiPhát cho ta gạo ngô khoaiCứu dân đi hỡi các ngài mặt mo!Lúa ta chất ứ đầy khoDành cho ai hưởng, chẳng cho ta dùng?Phát ngay cho kẻ bần cùngMẹ cha, con cháu, vợ chồng ta ăn!Bà con ơi, chớ tần ngầnCứu đời ta sống, phải cần tay ta!Tiến lên hăng nữa, đừng thaCầm dao, cầm súng xông ra phen nầy!Đánh cho giặc Nhật tan thâyVằm cho nát mặt cả bầy Việt gianDiệt trừ phát-xít dã manViệt Nam độc lập hoàn toàn tự doĐời dân ta mới ấm no! Chia Sẽ ❤️️ Thơ Về Quê Hương Đất Nước Hay ❤️️65+ Bài Thơ Về Tổ Quốc
thơ về nạn đói 1945